Luật bảo hiểm xã hội.

Câu hỏi:

Chào luật sư. Tôi đóng bảo hiểm từ tháng 3 /2016 tới 12/2017 . Tới tháng
9/2018 thấy tôi sinh con. Nay con tôi đã được hơn 4 tháng. Vì khi mới sinh
xong vì Đi lại khó khăn nên tôi không lấy thai sản được. Vậy bây giờ tôi có
thể lấy được thai sản không ạ.
Tôi xin cảm ơn

Trả lời:

Điều kiện hưởng chế độ thai sản.

Điều kiện hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã
hiểm xã hội năm 2014 như sau:
“1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Lao động nữ mang thai;
b) Lao động nữ sinh con;
c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;
d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt
sản; e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.
2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng
bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh
con hoặc nhận nuôi con nuôi.
3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã
hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo
chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo
hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh
con.
4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà
chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời
điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế
độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật
này.”
Như vậy lao động nữ mang thai và sinh con để được hưởng chế độ thai sản
phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng
trước khi sinh con. Nếu người lao động nữ sinh con đã đóng bảo hiểm xã hội
từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ
định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng từ đủ 3
tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con mới được hưởng chế
độ thai sản.
Nếu chị đủ một trong hai điều kiện trên mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp
đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi
dưới 6 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản.
Như vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH
về xác định 12 tháng trước khi sinh con thì 12 tháng trước khi sinh con trong trường hợp của chị sẽ được xác định là từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 8 năm
2018 do chị sinh con và không đóng bảo hiểm xã hội vào tháng 9 năm 2018.
Trong khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con chị mới chỉ đóng bảo
hiểm xã hội 4 tháng từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017. Do vậy, chị
chỉ đủ điểu kiện được hưởng chế độ thai sản nếu khi mang thai chị phải nghỉ
việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chũa bệnh có thẩm
quyền.
Về hổ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ được quy định tại Khoản
1 Điều 101 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 bao gồm:
“a) Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con;
b) Bản sao giấy chứng tử của con trong trường hợp con chết, bản sao giấy
chứng tử của mẹ trong trường hợp sau khi sinh con mà mẹ chết;
c) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình
trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;
d) Trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường
hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh;
đ) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao
động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai đối với trường hợp quy định tại khoản 3
Điều 31 của Luật này.”
Về giải quyết hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 102 Luật Bảo
hiểm xã hội năm 2014 như sau:
“1. Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc, người lao động có
trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 100, các khoản
1, 2, 3 và 4 Điều 101 của Luật này cho người sử dụng lao động.
Trường hợp người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con
nuôi thì nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 101 của Luật này và
xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội.

2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người
sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại Điều 100 và Điều 101
của Luật này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
3. Trách nhiệm giải quyết của cơ quan bảo hiểm xã hội:
a) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử
dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho
người lao động;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ
người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi, cơ
quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động.
4. Trường hợp cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết thì phải trả lời bằng
văn bản và nêu rõ lý do.”

Xem chi tiết tại: https://luatnqh.vn/

Leave a Reply